< Trở về giao diện Mobile

Sư phạm miền núi thuở ban đầu

SƯ PHẠM MIỀN NÚI NGHỆ AN THUỞ BAN ĐẦU   
(Lược trích Hồi ký của Cụ Nguyễn Mỹ Tài, Cố Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Sư phạm miền núi Nghệ An trong Cuốn Lịch sử Trường Trung học Sư phạm miền núi Nghệ Tĩnh – 1984)
 
 
                                                        TRẦN HỮU HY
                 Nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Trung học SP miền núi Nghệ An
 
          Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An hiện tại được nhập lại trên cơ sở nhiều trường sư phạm của tỉnh đào tạo giáo viên mầm non, tiểu học, THCS. Tháng 11/2019, Trường CĐSP Nghệ An sẽ tổ chức kỷ niệm 60 năm ngày thành lập; chúng tôi xin cung cấp tư liệu về Thuở ban đầu của Trường Sư phạm miền núi Nghệ An. Ai quan tâm có thể đọc và tìm hiểu.
          Bài viết được trích từ Hồi ký của Cụ Nguyễn Mỹ Tài, Cố Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Sư phạm miền núi Nghệ An trong Cuốn Lịch sử Trường Trung học Sư phạm miền núi Nghệ Tĩnh – 1984. Cụ Nguyễn Mỹ Tài là thân sinh của Cố GS Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ, nguyên Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp,...
 
          … Mùa hè năm 1959 Uỷ ban hành chính tỉnh Nghệ An có quyết định thành lập Trường Sư phạm miền núi Nghệ An thay cho Trường Văn hóa dân tộc đã giải tán. Do đề nghị của Ty giáo dục Nghệ An, tôi (Cụ Nguyễn Mỹ Tài - T H H) được cử về làm Hiệu trưởng. Ông Sầm Văn Vinh - Nguyên Chủ tịch huyện Quỳ Châu được điều về làm Hiệu phó phụ trách tổ chức và 3 giáo viên phổ thông cũng được điều về. Trong những năm đầu, Trường Sư phạm miền núi chỉ mới là trường Sư phạm sơ cấp có mục đích đào tạo giáo viên cấp 1 cho miền núi, thời gian đào tạo 3 năm. Đối tượng chiêu sinh là con em các dân tộc ít người kể cả con em người kinh nhưng đã ở miền núi lâu năm, có trình độ đã tốt nghiệp lớp 4, với sức học từ trung bình trở lên, số lượng khoảng 100 đến 120 em đủ để mở 3 lớp SP hệ (4+3) đầu tiên.
          Thật là một việc vô cùng mới mẻ đối với chúng tôi từ vấn đề xây dựng chương trình, lãnh đạo học tập cho đến việc chiêu sinh, việc tổ chức đời sống nội trú cho các em người dân tộc v.v… Tất cả đều mới mẻ và khó khăn.
          Cuộc họp đầu tiên của chúng tôi có Ty giáo dục Nghệ An tham dự chỉ bàn có 3 vấn đề :
          a/ Soạn thảo chương trình
          b/ Kế hoạch chiêu sinh
          c/ Định ngày khai giảng
          Trong 3 vấn đề trên chỉ có vấn đề dự thảo chương trình là gay go lúng túng nhất. Vì thật ra Ty hay chúng tôi cũng chẳng mảy may có chút kinh nghiệm nào, cuối cùng Ty giáo dục quyết định giao cho chúng tôi toàn quyền tự xoay xở. Chúng tôi chia nhau ra làm hai bộ phận, một lo chương trình tài liệu, giáo khoa; một lo phần chiêu sinh, tổ chức, vật chất. Trường được tiếp quản cơ sở vật chất của Trường Văn hóa Dân tộc cũ khá nghèo nàn về mọi mặt.
          Việc biên soạn chương trình, chúng tôi dựa vào chương trình lớp 5  (chưa cải tiến), có phần châm chước thêm bớt cho phù hợp với đối tượng miền núi và bổ sung thêm nội dung về phương pháp dạy học. Chúng tôi có viết thư ra Trường Sư phạm miền núi Trung ương để xin ý kiến và kinh nghiệm về mọi mặt tổ chức xây dựng một trường sư phạm dân tộc; nhưng rồi cũng chỉ được trả lời một cách chung chung vì ở Trung ương người ta cũng đang trên đường rút kinh nghiệm. Cuối cùng, chúng tôi cũng dự thảo xong một chương trình và được Ty giáo dục đồng ý cho phép ban hành.
          Còn về chiêu sinh cũng khá vất vả, chúng tôi mất khoảng gần 2 tháng mới tập hợp được hơn 100 hồ sơ có đủ tiêu chuẩn. Phái đoàn nhà trường cử đi, chẳng những phải làm việc với bộ phận phụ trách giáo dục huyện (lúc đó huyện chưa có phòng giáo dục riêng) mà còn phải đến ủy ban các xã và các trường để chiêu sinh. Thời gian đón các em về trường cũng phải mất gần tháng trời.
          Đến đầu tháng 11 năm 1959 trường mới khai giảng khóa 1, trường có 3 lớp, học sinh nam nữ các dân tộc được chia đều cả 3 lớp. Thời gian đầu vào học chủ yếu là để kiểm tra trình độ văn hóa của các em và chương trình cũng được sửa đổi mấy lần cho phù hợp đối tượng và đều được Ty chấp nhận.
          Việc tổ chức đời sống nội trú bước đầu thật khó khăn, đặc biệt là các em nữ nhớ nhà muốn về, nhiều bữa có em bỏ học báo ốm chúng tôi xuống thăm hỏi động viên thì ngày mai khỏi ốm và lên lớp học. Trước tình hình đó, Chi bộ nhà trường họp để bàn cách duy trì sĩ số (Chi bộ lúc bấy giờ chỉ định về 4 đồng chí đảng viên trực thuộc Tỉnh ủy Nghệ An). Kế hoạch của Chi bộ, của trường là phải đi sâu, đi sát từng em một, mối trung gian liên lạc giữa nhà trường với đoàn thanh niên lao động và tổ phụ nữ được thành lập. Một giáo viên phụ trách thanh niên, đồng chí nữ y tá đề ra những công tác ở tính chất tập thể như làm vệ sinh trường, lớp, phòng ở vệ sinh cá nhân, thực hiện ăn chín uống sôi v.v…
          Chúng tôi lại đặt vấn đề với Bệnh viện A1 (Bệnh viện tỉnh Nghệ An) để nhận những em bị đau yếu và chăm sóc chu đáo. Bản thân tôi cũng thường xuyên tới thăm các em bị đau để động viên và an ủi.
          Một điều đáng ghi nhớ là công tác văn nghệ của nhà trường, các em yêu thích và có khả năng văn nghệ như ca múa, thổi sáo, thổi kèn v.v… Nhà trường lập một đội văn nghệ, sắm thêm nhạc cụ cho các em chơi và sắm thêm phông màn cho sân khấu. Tôi có nhớ buổi ra mắt đầu tiên của đội được công chúng trong trường và nhân dân vùng lân cận hoan hô nhiệt liệt. Tiết mục biểu diễn trống của em Phà Văn Thìn được cả hội trường vỗ tay hồi lâu.
          Bên cạnh công tác văn nghệ là phong trào thể dục thể thao cũng khá rầm rộ, có xà đơn, xà kép, nhảy cao, nhảy dài, chạy thi 100m, 200m, có bóng bàn, bóng đá v.v… Các em cũng được nhà trường đài thọ kinh phí đi xem phim mỗi tuần một lần, còn đến thứ 5 hàng tuần có bữa ăn dân tộc tức là xôi thay cơm tẻ. Từ đó không khí nhà trường vui vẻ hẳn lên. Tinh thần học tập, lao động, đoàn kết dân tộc được phát huy rõ rệt. Những biểu hiện buồn rầu, nhớ nhà muốn thôi học hầu như đã tiêu tan. Nhà trường chúng tôi đã có lý do để hy vọng một năm học được kết thúc hoàn toàn tốt đẹp.
          Nhưng đột nhiên có chủ trương mới, UBHC Tỉnh và Ty giáo dục quyết định theo yêu cầu cán bộ, giáo viên cho miền núi cuối năm học (1959- 1960) nhà trường cho “tốt nghiệp” 40 em để về dạy các lớp 1, 2 ở miền núi. Chi bộ nhà trường, Ban giám hiệu, Đoàn thanh niên, Tổ phụ nữ bàn nhiều lần định tiêu chuẩn để chọn lọc, cuối dùng đã chọn đủ 40 em để ra công tác.
          Từ đầu năm học, giáo viên giảng dạy chỉ có 3 người, phụ trách 3 lớp, dạy tất cả các môn như kiểu cấp 1. Tháng 12/1959 Ty cho thêm 2 giáo viên, trong đó có ông Vy Văn Phúc ở Trường Sư phạm miền núi Trung ương về. Thầy Phúc được bổ sung vào cấp ủy, phân công phụ trách thanh niên (Thầy Vi Văn Phúc dân tộc Thái ở Con Cuông - THH). Việc này cũng làm cho các em tin thưởng và phấn khởi.
          Tiếp sang kỳ 2 của năm học, Ty lại điều thêm 4 giáo viên vừa mới tốt nghiệp Sư phạm Trung cấp bổ sung cho trường. Bây giờ trường mới có điều kiện phân công giảng dạy theo từng bộ môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hôi. Số giáo viên mới ra có năng lực nhất được phân công giảng dạy ở lớp 40 em cuối năm ra trường. Một cuộc sửa đổi chương trình lại diễn ra. Bộ máy hoạt động của trường bắt đầu ổn định dần và chạy đều. Lớp đặc biệt được bồi dưỡng thêm một số phương pháp sư phạm, có những buổi kiến tập, thực tập ở trường cấp 1 những xã xung quanh trường đóng.
          Những số gắng của buổi “khởi đầu nan” cả thầy lẫn trò không làm cho trường thất vọng, quả nhiên sau kỳ thi tốt nghiệp cho 40 em ra trường, các em đều đạt từ trung bình trở lên. Cả trường kết thúc năm học thứ nhất trong niềm phấn khởi và rạo rực, 40 học sinh ra trường, thầy trò tiễn biệt nhau bằng một tối văn nghệ khá thành công (Số này, về sau hầu hết là cán bộ lãnh đạo của 8 huyện miền núi Nghệ An).
 
          Hè 1960, một bộ phận thường trực ở lại chuẩn bị cho năm học mới 1960 - 1961, Trường phải chiêu sinh thêm 150 học sinh để có đủ 6 lớp, mỗi lớp khoảng 40 em. Ban giám hiệu và kế toán viên chúng tôi đã giải quyết vấn đề ăn ở nội trú cho khoảng 300 con người, có đầy đủ phòng học, nhà ngủ, nhà tập đoàn, phòng họp hội đồng, hội trường sân khấu v.v…
          Bước vào năm học, chúng tôi tiếp nhận 150 em, cả trường có 6 lớp. Vấn đề ăn ở đến tài liệu, giáo khoa chúng tôi đã có kinh nghiệm năm trước nên chỉ vài ngày sau khi khai giảng bộ máy hoạt động bắt đầu chạy đều. Các công tác văn nghệ, thể dục thể thao, lao động công ích, trang hoàng lớp học, làm bồn hoa ở sân trường cũng được triển khai mau lẹ “Chiến dịch tiếng trống Xô viết” của nhà trường được Tỉnh và Ty cấp bằng khen, giấy khen.
          Học kỳ 1 kết thúc thắng lợi, nhà trường chuẩn bị chu tất cho học sinh về ăn Tết tại quê nhà, trường cho nghỉ tết 2 tuần, tiền tàu xe và ăn đường do trường đài thọ, hợp đồng với Ty giao thông cho xe chở các em về theo 2 tuyến Con Cuông – Tương Dương; Nghĩa Đàn- Quỳ Châu. Mỗi em về có một bức thư chúc tết của trường và báo tin học tập cho gia đình biết, đồng thời yêu cầu gia đình động viên con em mình trở lại trường đúng phép. Quả nhiên việc này đã đem lại kết quả đáng mừng.
          Nhưng, một tai họa bất ngờ ập đến. Trường bị cháy. Ngọn lửa từ Trường SP Trung cấp lan sang Trường Bổ túc Công nông, rồi đến Trường SP miền núi. Mặc dù chúng tôi đã dũng cảm cứu chữa, nhưng do thời tiết hanh khô nên sau một thời gian ngắn Trường cháy sạch chỉ còn lại dãy nhà ăn được cứu thoát mà thôi. Thầy trò chúng tôi tiếp cán bộ của Tỉnh và Ty về thăm hỏi khi mặt mũi còn lấm lem tro than, khi những cột nhà đang cháy; những bàn ghế giường tủ đang ngùn ngụt bốc khói. Đêm ấy cả trường chen chúc nhau nằm ở nhà ăn, vì chật quá nên một số em nằm ở ngoài trời. Ngày hôm sau, chúng tôi được lệnh chuyển về Trường Phổ thông Lao động của tỉnh. Nhưng đây cũng chỉ là tạm bợ, vì đến tháng 2/1961 Trường PT Lao động sẽ chiêu sinh khóa mới. Trước tình hình đó, chúng tôi xin cấp trên về việc xây dựng lại trường; có 3 ý kiến được nêu ra để bàn thảo:
      1- Xây dựng lại ở địa điểm cũ;
      2- Trường chia làm 2: một nửa đi về phía đường 7, một nửa về đường 48;
      3- Trường lên hẳn Nghĩa Đàn.
Sau khi bàn thảo kỹ, ý kiến thứ 3 được chấp nhận. Trường cử một hiệu phó cùng với hai giáo viên lên Nghĩa Đàn tìm địa điểm; cuối cùng dừng chân tại xã Nghĩa Quang, dựa vào một cơ sở trường phổ thông cấp 1 xã Nghĩa Quang. Nhà trường phải làm thêm mấy phòng học, bàn ghế, nhà ăn tập thể, nhà ở giáo viên, còn học sinh gửi vào nhà dân,…
 Tôi không thể kể hết những khó khăn vất vả như việc chuyển bàn ghế từ Vinh lên, việc bạt đồi xẻ núi để dựng nhà. Những công việc ấy đều do thầy trò đảm nhiệm, thật đáng tuyên dương.
     Sau đó, tôi được điều động về Ty giáo dục; và công việc được giao lại cho thầy Vy Văn Phúc.
Bác Hồ với cán bộ và học sinh Trường SP miền núi Nghệ An ngày 06/12/1961 - Ảnh: Tư liệu
 
Ngày 09 tháng 12 năm 1961 một vinh dự rất lớn, Trường Sư phạm miền núi Nghệ An được đón Bác Hồ về thăm và dạy bảo ân cần. Tôi cũng được mời về dự với tư cánh là Hiệu trưởng cũ vừa mới chuyển công tác. Khi đó, Trường đã rời Nghĩa Đàn về tiếp quản cơ sở của Trường Huỳnh Thúc Kháng cũ trước đường Lê Mao bây giờ.
 Ghi lại những ý kiến trên đây về thời kỳ sơ khai của Trường SP miền núi Nghệ An vô cùng gian khó trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, nhưng đã làm được những điều phi thường mà các bạn có điều kiện sẽ tìm hiểu tiếp.
…..
         (Theo hồi ký của Cố Hiệu trưởng SPMN Nghệ An - Nguyễn Mỹ Tài)
 
Xem tin theo ngày: 

Các tin khác

Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An: 60 năm Xây dựng - Phát triển