< Trở về giao diện Mobile

Tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

                                                                                                                                                                                                        ThS. Lê Thị Thanh Hoa - Khoa Lý luận CT - Tâm lý GD - Trường CĐSP Nghệ An
 
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng, giữ gìn khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nền tảng cho mọi thành công của cách mạng. Trong bản Di chúc, Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”[1]. 50 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, những điều Người trăn trở, dặn lại trong Di chúc về đoàn kết trong Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự.
         1. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cách mệnh muốn thành công, trước hết phải có đảng cách mệnh. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[2]. Vấn đề đoàn kết trong Đảng có mối quan hệ đến sự thống nhất và vững mạnh của Đảng bởi chỉ có đoàn kết mới tạo sức mạnh trong Đảng. Mất đoàn kết là Đảng sẽ suy yếu. Chỉ có đoàn kết Đảng mới đủ sáng suốt đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn và đảm đương được vai trò hạt nhân, đoàn kết, tập hợp lực lượng, lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Có thể khẳng định rằng, đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Điều này đã được chứng minh qua thực tiễn đấu tranh và trở thành một truyền thống, một tài sản quý báu của Đảng ta. Đoàn kết trong Đảng được hình thành từ chính truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử trong công cuộc dựng nước và giữ nước, được phát triển ngày càng phong phú, khắc họa ngày càng đậm nét trong văn hoá, bản sắc dân tộc và là bộ phận hợp thành sức mạnh dân tộc. Hồ Chí Minh đã khái quát: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[3].
Từ thực tiễn hoạt động của Đảng, Hồ Chí Minh nhận thấy, nơi nào nội bộ mất đoàn kết thì tổ chức Đảng nơi đó suy giảm sức chiến đấu, không hoàn thành nhiệm vụ. Chính vì vậy, không chỉ nêu ra yêu cầu phải đoàn kết trong Đảng, Người còn chỉ rõ sự đoàn kết ấy phải là đoàn kết nhất trí, đoàn kết thống nhất, trước sau như một. Sự thống nhất đó phải thể hiện cả ở trong tư tưởng lẫn hành động, cả ở lời nói và việc làm. Người luôn nhấn mạnh: Đảng tuy có nhiều đảng viên, song khi tiến hành nhiệm vụ cách mạng thì chỉ như một người. Khối đoàn kết vững chắc đó dựa trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng và vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của tập thể. Đó không phải là đoàn kết giả tạo, hình thức; không phải là đoàn kết theo kiểu “bằng mặt mà không bằng lòng”, “dĩ hoà vi quý”, “đoàn kết một chiều”... để mưu cầu cho mục đích cá nhân, cục bộ. Trong Đảng không cho phép có tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Đặc biệt, đối với một Đảng cách mạng chân chính - Đảng cầm quyền, thì sự đoàn kết của Đảng càng có một vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là chiến lược tập hợp mọi lực lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân.
Chính vì vậy, theo Hồ Chí Minh, để tiếp tục thành công thì chính trong nội bộ Đảng, từ trên xuống dưới cần phải giữ gìn và phát huy truyền thống đó “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Mỗi đảng viên, nhất là đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo phải cương quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội trong chính bản thân mình trước những tác động từ bên ngoài. Bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội chính là căn nguyên của mất đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Không chỉ khẳng định sự cần thiết phải tăng cường đoàn kết thống nhất  trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, nội dung, biện pháp để thực hiện đoàn kết. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bìnhphê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”[4].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Dân chủ là tất cả mọi người được tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. “Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người”. Dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi công việc khó khăn của cách mạng. Trong Đảng không có dân chủ thì đời sống của Đảng sẽ trở nên “âm u”. Cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau, quần chúng với Đảng rời xa nhau. Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra. Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị "trù" là khác. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói "không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng", "trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm", sinh ra thói "thậm thà thậm thụt" và những thói xấu khác….Để làm cho Đảng mạnh, thì “phải thật sự mở rộng dân chủ” để đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình. Mặt khác, mỗi đảng viên bất cứ ở địa vị nào cũng phải làm gương dân chủ. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh “thực hành dân chủ” chứ người không nói là dân chủ. Phải chăng, Người thấy việc nói về dân chủ trong Đảng nhiều nhưng thực hành dân chủ rộng rãi thì còn có những hạn chế.
 Muốn thực hành dân chủ phải chống quan liêu, mệnh lệnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ, ai cũng biết bệnh quan liêu, mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh đó. “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ”[5] cho nên Đảng ta phải lãnh đạo cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh mới có thể thực thi được dân chủ. Người khẳng định: “Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là dân chủ”.
Bên cạnh việc “thực hành dân chủ”, Di chúc còn đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh vai trò của tự phê bình và phê bình. Đây là cách thức tốt nhất để thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, làm cho Đảng trong sạch, cán bộ, đảng viên tiến bộ, giữ vững được uy tín của Đảng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[6]. Người coi đây là thang thuốc hay nhất, thiết thực nhất, là biện pháp quan trọng để nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn trong Đảng. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi phải có tính Đảng, tính nguyên tắc cao; mục đích của phê bình và tự phê bình, cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ. Mỗi cán bộ, đảng viên phải coi đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng cần thiết như cơm ăn, nước uống và không khí thở hàng ngày không được lơ là chểnh mảng; phê bình thì phải rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng không nể nang, không thêm bớt; chống thói nể nang, che giấu trước mặt thì nể, kể lể sau lưng. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý phê bình việc làm, chứ không phê bình người. Đối với những người bị phê bình, thì phải vui lòng nhận thấy để sửa cho đúng, không vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét. Đồng thời Người cũng chỉ ra rằng cần phải kịp thời ngăn chặn các biểu hiện lợi dụng dân chủ, lợi dụng phê bình gây chia rẽ mất đoàn kết nội bộ.
Người hiểu rõ, đã là con người thì ít, nhiều đều có khuyết điểm, nhưng quan trọng là phải nhận rõ khuyết điểm, không được che giấu khuyết điểm; tự phê bình để sửa chữa, khắc phục, vươn lên tự chiến thắng thói hư tật xấu của mình. Như vậy, mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp cho bản thân và đồng chí ngày càng tiến bộ hơn; tuyệt đối không vì mâu thuẫn cá nhân, động cơ vụ lợi cá nhân mà phê bình theo kiểu “bới lông tìm vết” nhằm trù dập, đấu đá lẫn nhau. Vì vậy, theo Người, phải có động cơ, thái độ tự phê bình và phê bình đúng đắn vì sự phát triển và vững mạnh của Đảng. Muốn vậy, theo Người phải xây dựng được tình yêu đồng chí. Chỉ có trên cơ sở “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” thì mới thực hành được “dân chủ rộng rãi”, mới “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”.
Muốn có đoàn kết thực sự thì “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Lưu ý rằng, đây cũng là câu Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung vào năm 1966. Để hàng năm trời nghiền ngẫm mà chỉ thêm lời dặn này chứng tỏ nó quan trọng đến mức nào. Một câu ngắn nhưng thể hiện rõ chủ nghĩa nhân văn cũng như sự thông tuệ của Người. Rõ ràng, phải nhân văn mới biết yêu thương con người; phải thông tuệ, giàu trải nghiệm mới hiểu rằng nếu thiếu “gia vị của tình yêu thương”, mọi sự đoàn kết chỉ là hình thức, “dân chủ”, “phê bình và tự phê bình” đều trở nên khiên cưỡng và thô bạo. Để có sự đoàn kết thống nhất thực sự, bên cạnh tinh thần, lý trí, trong mỗi cán bộ, đảng viên phải có tình thương yêu đồng chí, có lòng nhân ái, nhân hậu. Trong thực hành công việc, không chỉ là đặt ra yêu cầu hoàn thành công việc mà còn phải có sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành công việc.
Để nâng cao uy tín và sức mạnh của Đảng thì ngoài việc củng cố đoàn kết trong Đảng, điều căn cốt là phải nâng cao đạo đức đảng viên. Trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền thì vấn đề đạo đức càng quan trọng vì quyền lực rất dễ dẫn đến sự tha hóa, biến chất của con người. Thấu tỏ mọi lẽ xa gần đó, trong Di chúc, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”[7]. Trong một đoạn văn ngắn, bốn lần Người dùng đến từ “thật” và “thật sự”để nhấn mạnh yêu cầu về sự trung thực trong đạo đức cách mạng. Thật và thật sự luôn đối lập với sự giả dối, hình thức, qua loa, nửa vời.
          2. Thấm nhuần tư tưởng và thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An luôn coi trọng, giữ gìn và phát huy đoàn kết thống nhất, xây dựng tỉnh nhà ngày càng phát triển. Từ một tỉnh thiếu đói triền miên, Nghệ An đã đạt sản lượng lương thực trên một triệu tấn/năm, bảo đảm nhu cầu an ninh lương thực và đời sống của hơn ba triệu dân trong tỉnh. Nông nghiệp Nghệ An phát triển ổn định, theo hướng sản xuất hàng hóa và ứng dụng công nghệ cao. Là cầu nối phát triển của cả vùng với hội đủ hệ thống giao thông quốc tế, Nghệ An đã và đang điểm đến của các tập đoàn kinh tế lớn trong nước và quốc tế đến đầu tư.
Dù những thành tích đạt được trong giai đoạn vừa qua được đánh giá cao nhưng đến nay Nghệ An vẫn chưa trở thành “tỉnh khá” của cả nước như sinh thời Bác Hồ mong đợi. Bên cạnh những thành tựu đạt được, Nghệ An đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, phức tạp. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để kích động chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong nội bộ nhân dân. Chúng tuyên truyền quan điểm sai trái trên hệ thống truyền thông, mạng xã hội; bôi nhọ, nói xấu, chỉ trích cán bộ của Đảng, Nhà nước gây hoài nghi, thiếu tin tưởng, chia rẽ đội ngũ cán bộ, tổ chức đảng với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Trong nội bộ Đảng, một số nơi không thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng việc tổ chức sinh hoạt, buông lỏng quản lý đảng viên. Công tác tự phê bình và phê bình chưa thật sự nghiêm túc; việc bình xét phân loại đảng viên qua loa, đại khái, dễ người, dễ ta. “Những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong xã hội”.
Cùng với cả nước, Nghệ An đang bước vào giai đoạn phát triển mới - giai đoạn phát triển trong môi trường hội nhập quốc tế ngày càng rộng, càng sâu.  Đó là môi trường chứa đựng nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức. Để đáp ứng tốt các yêu cầu của thực tiễn, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ đã được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Đại hội Đảng bộ tỉnh thứ XVIII cùng với mục tiêu yêu cầu của Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị về phát triển Nghệ An, có hàng loạt vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An phải nỗ lực cao độ để giải quyết. Trước hết, đó là đầu tàu gương mẫu của 28 đảng bộ trực thuộc với 1.565 tổ chức cơ sở đảng, 10.116 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở và 190.579 đảng viên[8].
          Để tiếp tục hiện thực hóa bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, thời gian tới, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Nghệ An cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau:
          Một là, đẩy mạnh nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm, Điều lệ của Đảng. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức, từ đó thống nhất về hành động của toàn Đảng.
          Hai là, thực hành tốt dân chủ trong Đảng. Đây là một điều kiện quan trọng để có đường lối, nghị quyết đúng. Là phương pháp căn bản khắc phục những bất đồng về tư tưởng. Muốn làm được điều đó, cần đảm bảo công khai, cởi mở, bình đẳng, dân chủ giữa cấp trên và cấp dưới; dân chủ trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa; kết hợp hài hòa giữa dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, nhất là trong xây dựng, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chính sách. Để thực hiện dân chủ thực chất, phải khắc phục bệnh dân chủ hình thức; khắc phục tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, độc đoán, coi thường ý kiến người khác, coi thường quần chúng. Mặt khác cũng phải ngăn ngừa việc lợi dụng dân chủ để gây rối theo kiểu tự do vô chính phủ.
          Ba là, thường xuyên thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình. Cán bộ càng cao, trách nhiệm càng lớn, càng phải gương mẫu tự phê bình và phê bình. Nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật do quần chúng nhân dân và truyền thông phát hiện không phải do tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng. Điều đó cho thấy tinh thần đấu tranh, thái độ phê bình tự phê bình của cán bộ, đảng viên chưa cao. Trong phê bình và tự phê bình, người cán bộ đảng viên trước hết phải có tâm trong sáng, có văn hóa, khiêm tốn, cầu thị, khoan dung, độ lượng, bình tĩnh trong xử sự công việc, ân tình trong ứng xử, vì sự tiến bộ của mỗi người và cộng đồng. Tình thương yêu, tôn trọng nhau, tôn vinh những thành công, những mặt tích cực của người khác là chìa khóa để phát huy dân chủ rộng rãi, nguyên tắc tập trung dân chủ được đề cao, kỷ cương, kỷ luật được thực hiện tốt nhất.
        Bốn là, để giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng, mỗi cán bộ đảng viên phải tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, tác phong, lối sống; nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và tác phong công tác để đáp ứng đòi hỏi của tình hình thực tiễn. Đặc biệt, phải lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; luôn thống nhất giữa nói và làm; có vai trò tiên phong, nêu gương, đi đầu trong mọi lĩnh vực, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của mỗi tổ chức Đảng, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Thực hiện Di chúc của Bác: “Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” là trách nhiệm của mỗi đảng viên và cơ quan lãnh đạo của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, xây dựng Đảng bộ Nghệ An thật sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng thực hiện mục tiêu sớm đưa Nghệ An “trở thành một tỉnh công nghiệp; là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung Bộ”[9]
         
                                                                   
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết 26 Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020”, Hà Nội, ngày 30/7/2013. 
2. Bộ Chính trị, Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Hà Nội 2016.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương,  khóa XII. Hà Nội, 2011.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2016.
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2011.
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2011.
8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
9. Tỉnh ủy Nghệ An, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015-2020.
10. www.nghean.vn/Đồng chí Phan Đình Trạc: Nghệ An tiếp tục góp ý, đề xuất với Trung ương về công tác xây dựng Đảng, 19/04/2019 12:31
 
 
[1] . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 622 .
[2].  Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 289
[3] . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 621-622
[4] . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 622
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 7, tr. 176
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 5, tr. 301
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 622
[8] www.nghean.vn/Đồng chí Phan Đình Trạc: Nghệ An tiếp tục góp ý, đề xuất với Trung ương về công tác xây dựng Đảng, 19/04/2019 12:31
[9] Bộ Chính trị, Nghị quyết 26 Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020”, Hà Nội.2013. 
 
Xem tin theo ngày: 

Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An: 60 năm Xây dựng - Phát triển