< Trở về giao diện Mobile

Quy định về việc làm Tiểu luận và Khóa luận tốt nghiệp cho K42 Hệ Cao đẳng chính quy (Ban hành kèm theo Quyết định số 706 /QĐ CĐSP ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Hiệu trưởng Trường CĐSP Nghệ An)

Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Văn bản này quy định về làm Tiểu luận và Khóa luận tốt nghiệp trong Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An (CĐSP Nghệ An) bao gồm: Xác định điều kiện thực hiện, quy trình quản lí, đánh giá, trách nhiệm, quyền lợi của giảng viên hướng dẫn và sinh viên trong việc làm Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp.
2. Văn bản này áp dụng đối với sinh viên từ khóa 42 hệ Cao đẳng sư phạm chính quy; giảng viên hướng dẫn, phản biện, chấm đề tài; các đơn vị có sinh viên được tuyển chọn làm Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp trong Trường CĐSP Nghệ An.
Điều 2. Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp
1. Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp là hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) chủ yếu của sinh viên trong nhà trường.
2. Mục đích của việc làm Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp:
- Phát huy tính năng động, sáng tạo, khả năng nghiên cứu khoa học độc lập của sinh viên, hình thành năng lực tự học cho sinh viên.
- Nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện ở Trường CĐSP Nghệ An. Góp phần tạo ra tri thức, sản phẩm mới cho xã hội.
Điều 3. Yêu cầu đối với nội dung của Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp
1. Phù hợp với khả năng và nguyện vọng của sinh viên.
2. Phù hợp với mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo của trường .
3. Phù hợp với định hướng hoạt động khoa học và công nghệ của trường.
4. Kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học, có tính mới và sáng tạo.
Điều 4. Nguyên tắc thực hiện Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp
1. Sinh viên cần thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn và tuân thủ chặt chẽ những quy định ban hành trong văn bản.
2. Việc hướng dẫn, nhận xét, đánh giá, cho điểm các Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp phải nghiêm túc, chính xác, khách quan theo đúng quy trình.
3. Tài chính cho hoạt động làm Tiểu luận và Khoá luận tốt nghiệp của sinh viên chủ yếu do sinh viên chịu trách nhiệm, ngoài ra sinh viên có thể vận động kinh phí từ các nguồn tài trợ hợp pháp khác. Ban giám hiệu nhà trường thanh toán cho giảng viên hướng dẫn, phản biện, chấm đề tài theo Quy định hiện hành.
 
Chương II
TIỂU LUẬN
Điều 5. Yêu cầu chung
1. Nội dung tiểu luận nhằm giải quyết một vấn đề liên quan đến học phần đang học.
2. Tiểu luận phải được hoàn thành cùng với thời gian kết thúc học phần và nộp cho cán bộ hướng dẫn để tổ chức đánh giá ở bộ môn vào cuối học kì (HK) đó.
4. Sinh viên có thể bắt đầu làm tiểu luận từ HK2 năm thứ I đến HK1 năm thứ III (HK 2, 3, 4, 5).
Điều 6. Điều kiện để sinh viên được nhận làm tiểu luận
1. Xếp hạng học tập khá trở lên (có điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,50 trở lên theo thang điểm 4) ở học kỳ trước.
2. Được giảng viên giảng dạy học phần giới thiệu dựa trên năng lực học tập.
3. Trong quá trình làm tiểu luận sinh viên phải tham dự học và kiểm tra lấy điểm đánh giá bộ phận như các sinh viên khác và phải đạt từ 7,0 điểm trở lên (thang điểm 10).
4. Mỗi sinh viên làm không quá 2 tiểu luận trong một học kì.
Điều 7. Điều kiện để giảng viên hướng dẫn và chấm tiểu luận
1. Cán bộ hướng dẫn tiểu luận:
Giảng viên dạy (hoặc có cùng chuyên môn) học phần nào có thể hướng dẫn sinh viên làm tiểu luận học phần đó với điều kiện: đã tham gia công tác giảng dạy ở trường Đại học, Cao đẳng ít nhất 2 năm và có bằng Đại học trở lên.
2. Giảng viên hướng dẫn là người chấm thứ nhất, người chấm thứ hai là một giảng viên có cùng chuyên môn của học phần sinh viên làm tiểu luận, có điều kiện như điều kiện giảng viên hướng dẫn tiểu luận.
Điều 8. Qui trình quản lý việc sinh viên làm tiểu luận
1. Từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 của mỗi học kỳ, các đơn vị tổ chức cho giảng viên hướng dẫn, sinh viên đăng ký tên đề tài và viết Đề cương Tiểu luận.
2. Hội đồng Khoa học và đào tạo các đơn vị duyệt đề cương, lập danh sách những sinh viên được duyệt, thông báo cho giảng viên hướng dẫn, sinh viên tiến hành làm Tiểu luận. Trưởng đơn vị báo cáo danh sách và nạp các Đề cương Tiểu luận về phòng ĐT&NCKH chậm nhất ngày thứ 2 tuần thứ 7 của mỗi học kỳ. Mỗi Tiểu luận chỉ do một sinh viên đảm nhận và do một người hướng dẫn.
3. Tuần thứ 13 của mỗi học kỳ, sinh viên nạp 2 cuốn Tiểu luận về văn phòng khoa, Bộ môn. Các đơn vị triển khai chấm và nạp hồ sơ kết quả gồm: Đề tài Tiểu luận (1 cuốn/1 đề tài), Phiếu chấm tiểu luận, Bảng điểm tổng hợp chấm Tiểu luận của sinh viên về phòng ĐT&NCKH chậm nhất ngày thứ 2 tuần thứ 14 của học kỳ.
4. Căn cứ báo cáo của các Khoa, sau khi xem xét, BGH Nhà trường sẽ ra quyết định công nhận kết quả chấm Tiểu luận vào đầu tuần thứ 15 của học kỳ.
Điều 9. Quy cách trình bày Tiểu luận
Quy cách trình bày tiểu luận như quy cách trình bày Khóa luận tốt nghiệp (ở Điều 15 của Quy định này). 
Điều 10. Quy trình đánh giá tiểu luận
1. Qui trình chấm tiểu luận thực hiện như chấm một bài thi kết thúc học phần, phải do 2 giảng viên đảm nhiệm: Cán bộ chấm thi thứ nhất (CB hướng dẫn) và cán bộ chấm thi thứ 2 cho điểm độc lập. Cán bộ chấm phải ghi đầy đủ thông tin vào Phiếu chấm Tiểu luận.
2. Điểm Tiểu luận là trung bình cộng điểm của 2 cán bộ chấm, làm tròn đến một chữ số thập phân và được thể hiện trong Bảng điểm học phần như điểm bài thi học phần.
3. Tiểu luận sau khi chấm được lưu giữ tại Văn phòng khoa, Bộ môn như một bài thi kết thúc học phần. Thời gian lưu giữ bài Tiểu luận ít nhất là hai năm, kể từ ngày nộp tiểu luận.
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   Chương III                                                                                                                    
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Điều 11. Yêu cầu chung
1. Để được công nhận tốt nghiệp sinh viên có thể đăng ký làm Khoá luận tốt nghiệp (KLTN) với khối lượng không quá 10% tổng số tín chỉ trong chương trình đào tạo giáo viên toàn khóa.
2. Sinh viên chủ động lựa chọn hoặc các giảng viên các bộ môn định hướng cho sinh viên chọn các đề tài KLTN theo hướng mà giảng viên hướng dẫn đang nghiên cứu hoặc có tính chất phục vụ cho công tác chuyên môn ngành sinh viên đang theo học.
            Điều 12. Điều kiện để sinh viên được nhận thực hiện và bảo vệ KLTN
1. Sinh viên phải đảm bảo điểm trung bình chung tích luỹ đạt điểm A hoặc điểm trung bình chung các học kì trước đó phải đạt loại giỏi;
2. Sinh viên không bị kỷ luật mức cảnh cáo trở lên trong suốt quá trình học tập rèn luyện từ khi bắt đầu khoá học.
Điều 13. Điều kiện để giảng viên hướng dẫn và đánh giá KLTN
1. Có bằng Thạc sĩ trở lên, có chuyên môn phù hợp với chuyên đề đối với người học trình độ cao đẳng;
2. Có khả năng nghiên cứu khoa học;
3. Có trách nhiệm đối với việc hướng dẫn.
Điều 14. Qui trình quản lý việc sinh viên thực hiện đề tài KLTN
1. Xét sinh viên nhận đề tài KLTN
- Vào đầu HK1 năm thứ ba (HK5), căn cứ qui định về tiêu chuẩn sinh viên nhận đề tài KLTN và tiêu chuẩn cán bộ hướng dẫn, các tổ bộ môn các Khoa công bố các đề tài để sinh viên chọn hoặc sinh viên đề xuất đề tài nghiên cứu.
- Hội đồng Khoa họp xét cho sinh viên nhận đề tài KLTN, phân công người hướng dẫn phù hợp. Mỗi đề tài KLTN chỉ do một sinh viên thực hiện và do một người hướng dẫn. Trưởng Khoa lập danh sách KLTN được xét duyệt báo cáo về phòng ĐT&NCKH chậm nhất ngày thứ 2 tuần thứ 7 của HK1 hàng năm.
- Căn cứ kết quả của các khoa, sau khi xem xét, Hiệu trưởng sẽ ra quyết định danh sách đề tài KLTN và sinh viên đăng kí thực hiện. Các sinh viên có tên triển khai làm Đề cương KLTN.
2. Duyệt đề cương KLTN
- Tuần thứ 13 của học kỳ 1 hàng năm, sinh viên nạp Đề cương KLTN về văn phòng các Khoa. Hội đồng Khoa học cấp Khoa tổ chức họp duyệt Đề cương, báo cáo kết quả về phòng ĐT&NCKH chậm nhất ngày thứ 2 tuần thứ 14 của học kỳ.
- Căn cứ báo cáo của các Khoa, Hiệu trưởng ra quyết định danh sách sinh viên được duyệt Đề cương và đủ điều kiện tiến hành làm KLTN. Sinh viên triển khai làm KLTN.
3. Tổ chức chấm KLTN
- Hiệu trưởng quyết định thành lập các hội đồng đánh giá khóa luận tốt nghiệp (gọi tắt hội đồng); số thành viên của mỗi hội đồng đánh giá là 3 hoặc 5, trong đó có chủ tịch, thư ký và các thành viên hội đồng. Thành viên của hội đồng là giảng viên trường hoặc có thể mời thêm những người có chuyên môn phù hợp ở ngoài trường. Giảng viên hướng dẫn có thể tham gia hoặc không tham gia; nếu không tham gia hội đồng có thể cho điểm đánh giá khóa luận tốt nghiệp vào một phiếu kín và gửi cho hội đồng; nếu tham gia hội đồng cho điểm vào 2 phiếu kín (1 phiếu với tư cách người hướng dẫn, 1 phiếu với tư cách thành viên hội đồng);
- Đánh giá khóa luận tốt nghiệp:
+ Hội đồng đánh giá khóa luận chỉ họp khi có mặt của chủ tịch, thư ký và ít nhất 01 thành viên hội đồng đánh giá trở lên;
+ Hình thức tổ chức đánh giá khóa luận tốt nghiệp: Sau khi sinh viên trình bày nội dung và trả lời những câu hỏi, các thành viên của hội đồng đánh giá khóa luận tốt nghiệp cho điểm theo phiếu; điểm đánh giá khóa luận tốt nghiệp là trung bình cộng các điểm của từng thành viên hội đồng, người đánh giá và người hướng dẫn, được làm tròn đến phần nguyên;
+ Hội đồng đánh giá theo thang điểm 10 bằng hình thức bỏ phiếu kín; điểm trung bình cộng của các thành viên thuộc ban chấm là điểm chính thức của khóa luận tốt nghiệp (được làm tròn đến hai chữ số thập phân);
+ Biên bản đánh giá khóa luận tốt nghiệp ghi theo mẫu và lưu theo quy định của Hiệu trưởng;
+ Khóa luận tốt nghiệp sau khi bảo vệ được chỉnh sửa theo ý kiến của ban chấm được in ấn, đóng ít nhất 2 bản, lưu 1 bản tại khoa chuyên môn và gửi về Trung tâm Thiết bị-thư viện (qua phòng Đào tạo-NCKH) 01 bản.
- Kết quả đánh giá khóa luận tốt nghiệp phải được công bố ngay sau buổi đánh giá. Điểm khóa luận được tính vào điểm trung bình chung học tập của toàn khóa học. Người học bảo vệ khóa luận tốt nghiệp nếu có điểm dưới 5, được Hiệu trưởng xem xét, quyết định tổ chức cho bảo vệ hoặc chuyển sang thi tốt nghiệp lại trong thời gian từ 3 đến 6 tháng sau khi Nhà trường công bố kết quả. Nội dung thi, hình thức thi, ra đề thi, tổ chức thi, chấm thi, tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp hoặc, xét và đề nghị công nhận tốt nghiệp cho những người học này được thực hiện như ở kỳ bảo vệ chính hoặc kỳ thi chính do Hiệu trưởng quy định.
Điều 15. Kết cấu và quy cách trình bày KLTN
1. Kết cấu KLTN
Gồm các phần theo thứ tự sau:
- Trang bìa cứng KLTN: Trang bìa được đóng bìa mềm, in chữ đủ dấu tiếng Việt
- Trang phụ bìa: Giống Trang bìa, in trên giấy in trắng
- Lời cám ơn: Nếu có, không quá 1 trang đánh máy, không đánh số trang
- Mục lục: Mô tả các đề mục của KLTN và đánh số trang cho từng đề mục trong từng phần
- Danh mục các chữ viết tắt: Nếu có - Không đánh số trang
- Danh mục các bảng, biểu: Nếu có - Không đánh số trang
- Danh mục hình ảnh – Sơ đồ: Nếu có - Không đánh số trang
- MỞ ĐẦU: Bắt đầu đánh số trang
            + Tính cấp thiết của đề tài
            + Mục đích nghiên cứu của đề tài
            + Đối tượng nghiên cứu
            + Phạm vi nghiên cứu
            + Phương pháp nghiên cứu
            + Kết cấu của đề tài
- NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- TÀI LIỆU THAM KHẢO: Không đánh số trang
- PHỤ LỤC
2. Quy cách trình bày
2.1. Độ dài của KLTN:
Không quá 60 trang (có thể ± 10%). Khoá luận được soạn thảo trên khổ giấy A4, mã Unicode, font Times New Roman cỡ chữ 13, dãn dòng đặt ở chế độ 1.3 lines; lề trên, lề dưới, lề phải 2.0cm; lề trái 3.0cm, đánh số trang chính giữa bên trên. Tất cả các tiêu đề của chương đều đặt ở chính giữa, đầu trang.
 
  • Tiểu mục: Số thứ tự của chương, mục và tiểu mục được đánh số bằng số Arập, không dùng số La mã. Các mục và tiểu mục được đánh số bằng các nhóm hai hoặc ba chữ số cách nhau một dấu chấm: số thứ nhất chỉ số chương; số thứ hai chỉ số mục; số thứ ba chỉ số tiểu mục.
Các tiểu mục của KLTN được trình bày và đánh số thành nhóm số, nhiều nhất gồm bốn chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ 3.1.2.1 chỉ tiểu mục 1 nhóm tiểu mục 2 mục 1 chương 3). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục 2.1.2 tiếp theo.
Ví dụ: Chương 1.
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
...............
1.2.
1.2.1.
  • Bảng biểu, hình vẽ, phương trình (xem phụ lục 08): Việc đánh số bảng biểu, hình vẽ, phương trình phải gắn với số chương (ví dụ hình 3.4 có nghĩa là hình thứ 4 trong chương 3).
Ví dụ: Chương 1.
Hình1.1. Hình1.2.
...............
Chương 2.
Hình2.1. Hình2.2.
            + Mọi đồ thị, bảng biểu lấy từ các nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ.
     + Tất cả nguồn đều in nghiêng để góc dưới tay trái của bảng biểu, hình vẽ, sơ đồ, biểu đồ,...
+ Nguồn được trích dẫn phải được liệt kê chính xác trong danh mục tài liệu tham khảo.
     + Đầu đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, đầu đề của hình vẽ, sơ đồ ghi phía dưới hình theo.
     + Thông thường, những bảng ngắn và đồ thị nhỏ phải đi liền với phần nội dung đề cập tới các bảng và đồ thị này ở lần thứ nhất. Các bảng dài có thể để ở những trang riêng nhưng cũng phải tiếp theo ngay phần nội dung đề cập tới bảng này ở lần đầu tiên.
     + Trong KLTN, các hình vẽ phải đánh số và ghi đầy đủ đầu đề, cỡ chữ phải bằng cỡ chữ sử dụng trong văn bản KLTN. Khi đề cập đến các bảng biểu và hình vẽ phải nêu rõ số của hình và bảng biểu đó (ví dụ “... được nêu trong bảng 4.1” hoặc “(xem hình 3.2)” mà không được viết “... được nêu trong bảng dưới đây” hoặc “trong đồ thị của X và Y sau”.
      + Việc trình bày phương trình toán học trên một dòng đơn hoặc dòng kép là tuỳ ý, tuy nhiên phải thống nhất trong toàn KLTN. Khi ký hiệu xuất hiện lần đầu tiên thì phải giải thích và đơn vị tính phải đi kèm ngay trong phương trình có ký hiệu đó.
            + Nếu cần thiết, danh mục của tất cả các ký hiệu, chữ viết tắt và nghĩa của chúng cần được liệt kê và để ở phần đầu của KLTN. Tất cả các phương trình cần được đánh số và để trong ngoặc đơn đặt bên phía lề phải. Nếu một nhóm phương trình mang cùng một số thì những số này cũng được để trong ngoặc, hoặc mỗi phương trình trong nhóm phương trình (5.1) có thể được đánh số là (5.1.1), (5.1.2), (5.1.3).
  • Viết tắt:
            + Không lạm dụng việc viết tắt trong KLTN.
+ Chỉ viết tắt những từ, cụm từ hoặc thuật ngữ được sử dụng nhiều lần trong KLTN.
     + Không viết tắt những cụm từ dài, những mệnh đề; không viết tắt những cụm từ ít xuất hiện trong KLTN.
     + Nếu cần viết tắt những từ, thuật ngữ, tên các cơ quan, tổ chức... thì được viết tắt sau lần viết thứ nhất có kèm theo chữ viết tắt trong ngoặc đơn.
             + Nếu KLTN có nhiều chữ viết tắt thì phải có bảng danh mục các chữ viết tắt (xếp theo thứ tự ABC) ở phần đầu KLTN.
Ví dụ:     UNWTO: World Tourism Organization - Tổ chức Du lịch Thế giới
2.2. Hướng dẫn viết tài liệu tham khảo
2.2.1. Tài liệu tham khảo được xếp riêng theo từng ngôn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung, Nhật,...). Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, không dịch, kể cả tài liệu bằng tiếng Trung Quốc, Nhật,... (đối với những tài liệu bằng ngôn ngữ còn ít người biết có thể thêm phần dịch tiếng Việt đi kèm theo mỗi tài liệu).
2.2.2.Tài liệu tham khảo xếp theo thứ tự ABC họ tên tác giả theo thông lệ của từng nước:
  • Tác giả là người nước ngoài: xếp thứ tự ABC theo họ.
  • Tác giả là người Việt Nam: xếp thứ tự ABC theo tên nhưng vẫn giữ nguyên thứ tự thông thường của tên người Việt Nam, không đảo tên lên trước họ.
  • Tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo thứ tự ABC từ đầu của tên cơ quan ban hành báo cáo hay ấn phẩm, ví dụ: Tổng cục Thống kê xếp vào vần T, Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp vào vần B,...
2.2.3. Tài liệu tham khảo là sách, luận văn, KLTN khác, báo cáo khoa học,... phải ghi đầy đủ các thông tin sau:
Quy tắc: [STT]. Tên tác giả (năm công bố), tên sách, nhà xuất bản.
  • Tên các tác giả hoặc cơ quan ban hành (không có dấu ngăn cách, không ghi học vị)
  • (Năm công bố), (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn)
  • Tên sách, luận văn hoặc báo cáo, (in nghiêng, dấu phẩy cuối tên)
  • Nhà xuất bản, (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản)
  • Nơi xuất bản. (dấu chấm kết thúc tài liệu tham khảo)
Ví dụ:
         [1]. Nguyễn Văn Đính, Nguyễn Văn Mạnh (1996), Giáo trình tâm lý và nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh du lịch, Nxb Thống kê.
2.2.4. Tài liệu tham khảo là bài báo trong tạp chí, bài trong một cuốn sách,... phải ghi đầy đủ các thông tin sau:
Quy tắc: [STT]. Tên tác giả (năm công bố), “tên bài viết”, tên tạp chí, tập, (số), các số trang đầu và cuối của bài viết.
  • Tên các tác giả (không có dấu ngăn cách)
  • (Năm công bố), (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn)
  • “Tên bài báo”, (đặt trong ngoặc kép, in nghiêng, dấu phẩy cuối tên)
  • Tên tạp chí hoặc tên sách, (không in nghiêng, dấu phẩy cuối tên)
  • Tập (không có dấu ngăn cách)
  • (Số), (đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn)
  • Các số trang (gạch ngang giữa hai chữ số, dấu chấm kết thúc)
Ví dụ:
[3]. Phan Chí Anh, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Huệ Minh (2013), “Nghiên cứu các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ” Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 1, tr.11-22.
2.2.5. Tài liệu tham khảo là tài liệu Internet (hạn chế sử dụng loại trích dẫn này) phải ghi đầy đủ các thông tin sau: Tương tự như tài liệu báo chí và sách nhưng phải ghi rõ đường link trích dẫn và ngày truy cập lấy bài viết về:
Quy tắc: [STT]. ghi tên tác giả (năm), tên bài, website và đường link, ngày cập nhật.
Ví dụ:
[25]. World Tourism Organization (2002), Covid-19: Unwto calls on tourism to be part of recovery plans, https://www.unwto.org/news/, ngày 18/3/2020.
2.2.6. Số thứ tự của tài liệu tham khảo đánh trong móc [ ].
3. Cách trích dẫn tài liệu tham khảo
Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa, mang tính chất gợi ý không phải của riêng tác giả và mọi tham khảo khác phải được trích dẫn và chỉ rõ nguồn trong danh mục Tài liệu tham khảo. Phải nêu rõ cả việc sử dụng những đề xuất hoặc kết quả của đồng tác giả.
Không trích dẫn những kiến thức phổ biến, mọi người đều biết. Việc trích dẫn, tham khảo chủ yếu nhằm thừa nhận nguồn của những ý tưởng có giá trị và giúp người đọc theo được mạch suy nghĩ của tác giả.
Tài liệu tham khảo trích dẫn trong KLTN cần được trích dẫn theo số thứ tự của tài liệu tham khảo ở danh mục tài liệu tham khảo của KLTN và số thứ tự đó được đặt trong ngoặc vuông, khi cần có cả số trang, ví dụ...... [4, tr.314-315]. Đối với phần trích dẫn từ
nhiều tài liệu khác nhau, số của từng tài liệu được đặt độc lập trong từng ngoặc vuông, theo thứ tự tăng dần, ví dụ [19], [22].
Khóa luận có thể trích dẫn theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về trích dẫn hoặc theo thông lệ Quốc tế (Harvard, APA, Chicago,…). Sinh viên chỉ sử dụng một kiểu trích dẫn duy nhất cho toàn bộ khóa luận.
4. Về số lượng quyển
Số lượng quyển phải nộp về phòng Đào tạo - NCKH: Bao gồm 2 quyển chính (đóng bìa mềm)
  • Sau khi bảo vệ KLTN trước Hội đồng chấm KLTN xong, sinh viên cần chỉnh sửa nội dung của KLTN theo góp ý của Hội đồng chấm (theo biên bản của Hội đồng chấm).
Chương V
TRÁCH NHIỆM, QUYỀN LỢI CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN
Điều 16. Đối với sinh viên
1. Trong quá trình làm KLTN sinh viên cần báo cáo về tiến độ công việc nghiên cứu của mình với giảng viên hướng dẫn. Nếu gặp những vướng mắc trong quá trình thực hiện sinh viên kịp thời báo cáo với cán bộ hướng dẫn, trưởng bộ môn, trưởng khoa để được giúp đỡ.
2. Với các tiểu luận, KLTN xuất sắc; tổ bộ môn có thể đề nghị báo cáo ở hội nghị khoa học hàng năm của Khoa và của Trường.
3. Những sinh viên đã được xét duyệt làm Tiểu luận, KLTN mà không hoàn thành trước thời gian quy định sẽ bị đánh giá điểm không và không được tham gia thi kết thúc học phần lần 1 (đối với Tiểu luận) hoặc học thêm các học phần chuyên ngành khối lượng tương đương (đối với KLTN).
4. Sinh viên làm Tiểu luận của học phần nào mà điểm học phần đó vẫn bị điểm F phải tham gia thi lần 2 để hoàn thành học phần đó.
5. Sinh viên có KLTN bị điểm F, phải đăng ký làm lại KLTN; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số tín chỉ của KLTN.
Điều 17. Đối với cán bộ giảng viên
1. Giảng viên được giao hướng dẫn, phản biện tiểu luận, KLTN có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ của mình. Giúp đỡ sinh viên thực hiện theo đúng quy trình.
2. Định mức giờ chuẩn cho giảng viên được thực hiện theo Quy định hiện hành.
Điều 18. Trách nhiệm của Trưởng khoa, Văn phòng các khoa, Trưởng phòng
Trưởng khoa, văn phòng các khoa, Trưởng phòng chức năng có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc Quy định này nhằm đảm bảo thống nhất trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện giữa các đơn vị.
 
 
File đính kèm: 
Xem tin theo ngày: 

Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An: 60 năm Xây dựng - Phát triển